Sáu yếu tố
- S0, X, T, r, D, σ. Tăng S, r → call tăng, put giảm. Tăng X, D → call giảm, put tăng. Tăng σ → cả call và put tăng.
- Tăng T: option kiểu Mỹ tăng giá; option châu Âu không kết luận chung được (cổ tức lớn có thể làm call dài hạn rẻ hơn).
- Chia tách cổ phiếu không làm thay đổi giá trị option vì strike và số cổ phiếu được điều chỉnh.
Cận giá (cổ phiếu không trả cổ tức)
- Cận trên: c, C ≤ S0; P ≤ X; p ≤ PV(X).
- Cận dưới: c, C ≥ max(0, S0 − PV(X)); p ≥ max(0, PV(X) − S0); P ≥ max(0, X − S0).
- Chứng minh bằng hai danh mục: danh mục có payoff luôn không kém thì hôm nay không thể rẻ hơn.
Put-call parity
- Fiduciary call (call + trái phiếu trả X) và protective put (cổ phiếu + put) cùng trả max(ST, X): c + PV(X) = S0 + p.
- Chỉ đúng cho option châu Âu cùng strike, cùng kỳ hạn. Chuyển vế để lập danh mục tổng hợp; dấu cộng là mua, dấu trừ là bán.
- Theo giá forward: p + PV(F) = c + PV(X); F = X thì c = p.
Thực hiện sớm và option kiểu Mỹ
- Không bao giờ thực hiện sớm call kiểu Mỹ trên cổ phiếu không trả cổ tức: S0 − X < S0 − PV(X), nên C = c.
- Put kiểu Mỹ có thể được thực hiện sớm khi đủ sâu in the money.
- S0 − X ≤ C − P ≤ S0 − PV(X).
Cổ tức
- c ≥ S0 − D − PV(X); p ≥ D + PV(X) − S0; p + S0 = c + D + PV(X); S0 − X − D ≤ C − P ≤ S0 − PV(X).
- Call kiểu Mỹ có thể được thực hiện sớm khi cổ tức lớn hơn phần lãi bị bỏ lỡ, và chỉ ngay trước ngày giao dịch không hưởng quyền.