Rủi ro lãi suất và cách xử lý cơ bản
- Người vay lo lãi suất tăng, nhà đầu tư lo lãi suất giảm. Khoản vay hoặc khoản gửi bắt đầu trong tương lai chịu rủi ro tới ngày chốt lãi suất, kể cả khi vay cố định.
- Chọn cố định hay thả nổi: kỳ vọng lãi suất (yield curve), kỳ hạn, chênh lệch lãi suất và chi phí thu xếp, khẩu vị rủi ro, cơ cấu nợ hiện có, áp lực thanh khoản.
- Cách xử lý không cần phái sinh: smoothing, matching, netting, pooling. Không hedge hợp lý khi rủi ro nhỏ, chi phí cao hoặc không có sản phẩm phù hợp.
- FRA và futures chốt lãi suất; options đặt trần hoặc sàn và giữ phần lợi, đổi lại phải trả premium; swap đổi cơ cấu nợ dài hạn.
FRA
- Báo giá 3–9: bắt đầu sau 3 tháng, kết thúc tháng 9, kỳ hạn 6 tháng; mức lãi suất FRA là base rate chốt, chưa gồm biên độ.
- FRA settlement = (reference rate − FRA rate) × notional principal × tháng/12. Người vay nhận khi lãi suất thực tế cao hơn FRA; người gửi nhận khi thấp hơn.
- Lãi suất hiệu dụng người vay = FRA rate + biên độ; người gửi = FRA rate − phần dưới base rate.
- Báo giá hai chiều: người vay dùng mức cao, người gửi dùng mức thấp. Chọn FRA khớp ngày bắt đầu và kỳ hạn.
Interest rate futures
- Giá = 100 − lãi suất năm. Người vay bán futures (go short); nhà đầu tư mua futures (go long).
- Số hợp đồng = số tiền ÷ contract size × kỳ hạn (tháng) ÷ 3. Dùng hợp đồng đáo hạn đầu tiên sau ngày giao dịch bắt đầu.
- Tick value = contract size × 0.01% × 3/12 ($12.50 cho $500,000; $25 cho $1m). Lãi lỗ = số tick × tick value × số hợp đồng.
- Basis = futures rate − base rate = (100 − base rate) − futures price. Closing basis = opening basis × tháng còn lại khi đóng ÷ tháng còn lại hôm nay.
- Lock-in rate = opening futures rate − closing basis; người vay cộng biên độ, người gửi trừ phần dưới base rate. Basis âm: trừ số âm là cộng.
- Mark-to-market: lãi lỗ hằng ngày vào tài khoản ký quỹ; initial margin, variation margin, maintenance margin làm khó dự báo dòng tiền. Ký quỹ là tiền cọc được trả lại khi đóng vị thế, không phải phí; cái giá là chi phí cơ hội và áp lực thanh khoản.
- Ngày giao dịch là ngày cuối tháng thì tính như đầu tháng sau khi đếm tháng còn lại của basis (31/1 tới cuối tháng 3 còn 2 tháng).
- Basis risk: basis thực tế khác basis tuyến tính dự kiến nên hedge không hoàn hảo.
Options on futures và collar
- Put = quyền trả lãi ở strike rate, dùng cho người vay; call = quyền nhận lãi ở strike rate, dùng cho nhà đầu tư. Strike rate = 100 − strike price.
- Premium yết theo % năm, cộng thẳng vào lãi suất hiệu dụng. Premium bằng tiền = premium % × contract size × 3/12 × số hợp đồng.
- Put exercise khi futures rate ngày đóng cao hơn strike rate; call exercise khi thấp hơn.
- Trần người vay = strike rate − closing basis + biên độ + premium. Sàn nhà đầu tư = strike rate − closing basis − phần dưới base − premium.
- Collar người vay: mua put, bán call ở strike rate thấp hơn. Collar nhà đầu tư: mua call, bán put ở strike rate cao hơn. Chân bán ra do người mua quyết định thực hiện.
- Hedge ratio = 1 ÷ delta; delta của call = N(d1), delta của put = N(d1) − 1; delta thay đổi theo thời gian. Bán quyền chọn trước hạn thu được cả time value.
- Chi phí tăng thêm = chi phí ròng sau hedge − chi phí ở base rate hiện tại; options có premium lớn hơn khoản lãi exercise làm chi phí tăng thêm cao hơn không hedge.
- Khoản vay nhiều năm hedge bằng futures hoặc collar trên sở: ghi rõ kỳ hedge đã chọn (cả kỳ vay hoặc tới ngày chốt lãi suất); thực tế phải cuộn hợp đồng.
- OTC options (cap, floor, collar, interest rate guarantee) khớp số tiền và kỳ hạn dài nhưng đắt, không bán lại được, có rủi ro đối tác.
Swaps
- Interest rate swap: trả cố định nhận thả nổi trên số gốc danh nghĩa, chỉ thanh toán phần chênh; chân thả nổi ở base rate nếu đề không nói khác.
- Lợi ích tổng = |chênh lệch fixed − chênh lệch floating| − tổng phí ngân hàng. Bên có lợi thế tương đối lớn hơn ở thị trường cố định vay cố định.
- Bảng chuẩn: rate without swap, benefit, net result, borrows at, pays/receives, bank fee, net result. Lãi suất cố định của swap là số cân bằng.
- Giá hai chiều của ngân hàng: công ty trả mức cao, nhận mức thấp. Nợ thả nổi base + m swap sang fixed F có chi phí F + m.
- Đề cho công ty mạnh hơn ở cả hai thị trường nhưng lợi thế lớn hơn ở thả nổi: công ty vay thả nổi rồi swap sang cố định. Lãi suất cố định ngân hàng báo cho công ty là rate without swap, chưa phải swap rate.
- Chi phí ròng khi swap nợ thả nổi sang cố định = fixed swap rate + biên độ khoản vay + phần chân thả nổi nhận thiếu + phí ngân hàng; không phụ thuộc lãi suất thực tế.
- Forward rate năm n: fn = (1 + sn)n/(1 + sn−1)n−1 − 1. Fixed swap rate = Σ(thả nổi dự kiến × DF) ÷ Σ DF; NPV swap bằng 0 lúc ký, thay đổi khi lãi suất lệch dự báo và khi thời gian trôi qua.
- Currency swap: trao đổi gốc theo tỷ giá giao ngay, trả lại cuối kỳ theo tỷ giá thỏa thuận; lợi ích = tổng phần mỗi bên vay rẻ hơn ở nội tệ trừ phí. Swaption là quyền chọn vào swap; FOREX swap là cặp giao ngay và kỳ hạn ngược chiều.
Chọn công cụ và thảo luận
- Ưu tiên chắc chắn: công cụ chốt cho kết quả tốt nhất (FRA, futures). Muốn giữ phần lợi hoặc giao dịch chưa chắc: options, collar. Khoản vay nhiều năm: swap, cap.
- Thảo luận: so kết quả, nêu chốt hay mở, basis risk, margin, rủi ro đối tác, hedge thừa thiếu, khuyến nghị gắn với mục tiêu của hội đồng quản trị.
- Điểm hòa vốn: viết kết quả từng phương án theo base rate, đặt bằng nhau rồi giải. Options thôi exercise khi futures rate = strike rate; không hedge bằng FRA khi base rate = FRA rate, bằng futures khi base rate = lock-in rate.
- Trong một kịch bản biết trước, options không bao giờ hơn cả công cụ chốt lãi suất lẫn không hedge; giá trị của options là sàn hoặc trần khi chưa biết lãi suất đi đâu.
- Chất vấn của giám đốc: trả lời riêng từng người, dùng số đã tính, nói đúng ở đâu sai ở đâu (hedge khác đầu cơ; mất phần lợi chỉ khi base rate vượt điểm hòa vốn; options đổi premium lấy sự linh hoạt).
- Report Section A: tiêu đề, mở đầu, appendix tính toán, thân bài bình luận và trả lời mọi câu hỏi của hội đồng quản trị, kết luận.