Absorption costing truyền thống
- Mỗi cost centre sản xuất dùng một tiêu thức phân bổ: giờ máy cho nhà máy tự động hóa, giờ công cho phân xưởng dùng nhiều lao động.
- OAR = Budgeted production overheadsBudgeted level of activity; mẫu số có thể là mức hoạt động bình thường.
- Giả định overhead tăng theo sản lượng không còn đúng khi overhead lớn và phần lớn là chi phí hỗ trợ không phụ thuộc sản lượng (set-up, lên lịch, kiểm tra, xử lý đơn hàng).
- Hệ quả: phân bổ quá nhiều cho sản phẩm sản lượng lớn, quá ít cho sản phẩm sản lượng nhỏ và phức tạp.
- Trước khi absorb: allocate, apportion, reapportion chi phí service cost centre (direct, step, reciprocal method). ABC không reapportion mà gom thẳng vào cost pool.
- OAR theo doanh thu = tổng overhead ÷ tổng doanh thu; overhead mỗi đơn vị = giá bán × OAR. OAR theo số đơn vị: quy sản lượng về cả năm (tháng × 12) trước khi chia.
Marginal costing và over/under-absorption
- Marginal costing: định phí sản xuất là period cost, giá thành chỉ có biến phí nên thấp hơn ABC. Absorption costing và ABC đều coi định phí sản xuất là product cost.
- OAR và cost driver rate tính từ số ngân sách; overhead absorbed = rate × mức hoạt động thực tế. Lệch với overhead thực tế là over/under-absorption, xảy ra cả dưới ABC.
ABC và cost driver
- ABC: hoạt động gây ra chi phí; sản phẩm tạo nhu cầu dùng hoạt động; chi phí gán theo mức sản phẩm tiêu dùng hoạt động.
- Năm bước: xác định hoạt động → gom overhead thành cost pool → chọn cost driver → tính cost driver rate → phân bổ theo số cost driver mỗi sản phẩm dùng.
Cost driver rate = Total cost of the activity (cost pool)Total number of cost drivers
- Mẫu số là tổng cost driver của mọi sản phẩm; tổng overhead của sản phẩm chia cho sản lượng của chính nó ra overhead mỗi đơn vị.
- Bốn cấp chi phí: unit level (số đơn vị), batch level (số lô), product level (số loại sản phẩm), facility sustaining (không có cost driver rõ ràng).
- Overhead chủ yếu thuộc unit level hoặc facility sustaining thì hai cách cho giá thành gần nhau; chủ yếu batch hoặc product level thì chênh nhiều.
- Cost driver là thước đo khối lượng hoạt động, không phải chi phí. Cỡ lô không phải cost driver. Ngắn hạn, một phần chi phí của hoạt động vẫn cố định.
- Cost driver hoạt động hỗ trợ: material handling theo số lần di chuyển vật tư, procurement theo số đơn mua, customer service theo số yêu cầu bảo hành, IT support theo số yêu cầu hỗ trợ, maintenance theo giờ máy, packing and despatch theo số đơn hàng.
Tự dựng tổng cost driver
- Số lô = sản lượng ÷ cỡ lô; tổng driver = số lô × driver mỗi lô; cộng mọi sản phẩm ra mẫu số. Thời gian theo phút thì chia 60.
- Số đơn hàng = sản lượng ÷ cỡ đơn bình quân; chi phí mỗi đơn vị = rate mỗi đơn ÷ cỡ đơn. Đề cho tổng đơn của cả công ty thì dùng số đó làm mẫu số.
- Cùng loại vật tư, cùng loại thợ thì dùng chi phí vật tư $ và chi phí nhân công $ làm cost driver.
So sánh và đánh giá
- ABC chia lại cùng tổng overhead; tổng chênh lệch giữa hai cách bằng 0, tổng lợi nhuận không đổi khi không có tồn kho.
- Giữ số lẻ của rate khi nhân, làm tròn ở kết quả để tổng phân bổ khớp tổng overhead.
- Nên dùng ABC khi overhead lớn so với prime cost, danh mục sản phẩm đa dạng, sản phẩm dùng nguồn lực rất khác nhau, tiêu hao nguồn lực không do sản lượng quyết định.
- Lợi ích: kiểm soát chi phí qua cost driver, hỗ trợ định giá, xem lại cơ cấu sản phẩm, phân tích sinh lời theo khách hàng và dòng sản phẩm, đánh giá thành quả.
- Hạn chế: tốn thời gian và chi phí, ít tác dụng khi overhead đi theo sản lượng hoặc sản phẩm giống nhau, có thể nhiều cost driver, vẫn còn phân bổ tùy ý.