Tóm tắt Reading 26: Country Risk: Determinants, Measures, and Implications

Môn FRM Part II (FRM2), Reading 26/107

Nguồn country risk

  • Bốn nguồn: vị trí trong vòng đời tăng trưởng (nước mới nổi biến động mạnh hơn, năm 2008 cổ phiếu mới nổi giảm từ 50% trở lên so với 25%–30% ở Mỹ và châu Âu); political risk; legal risk; cấu trúc kinh tế phụ thuộc một mặt hàng.
  • Political risk gồm: continuous risk (dân chủ, thường xuyên nhưng nhỏ) và discontinuous risk (độc tài, hiếm nhưng dữ dội); tham nhũng như thuế ngầm; bạo lực; nationalization và expropriation (nặng nhất với doanh nghiệp tài nguyên).
  • Legal risk: cấu trúc (bảo vệ quyền tài sản) và hiệu quả (tốc độ xử lý tranh chấp); xử lý chậm cũng như không bảo vệ.

Đo country risk

  • PRS: hơn 100 nước, 22 biến, ba chiều chính trị, kinh tế, tài chính. Euromoney: 400 nhà kinh tế, thang 0–100, cao là an toàn. The Economist: currency, sovereign debt, banking risk; thấp là an toàn. World Bank: 215 nước, sáu mảng, xoay quanh 0, dương là an toàn.
  • Hạn chế: viết cho nhà kinh tế hơn là nhà đầu tư; không chuẩn hóa giữa các nguồn; chỉ nên dùng như thứ hạng (70 không phải rủi ro gấp đôi 35).

Vỡ nợ chủ quyền

  • Foreign currency default: không có ngoại tệ, không in được ngoại tệ; chiếm phần lớn các vụ. Quốc gia dễ vỡ nợ khoản vay ngân hàng hơn trái phiếu. Mỹ Latinh chiếm ít nhất 60% vụ vỡ nợ ngoại tệ mỗi thập niên trong năm thập niên gần nhất, trừ thập niên 1990.
  • Local currency default: vỡ nợ đồng thời tăng từ 5% (1960–1996) lên 42% (1997–2007). Ba lý do: gold standard (trước 1971), shared currency (euro), tradeoff giữa chi phí vỡ nợ và chi phí in tiền (nặng khi nợ ngoại tệ tài trợ tài sản nội tệ).
  • Hậu quả: GDP giảm 0.5%–2.0% (ngắn hạn); rating thấp hơn 1–2 bậc, chi phí vay cao hơn 0.5%–1.0%; thương mại song phương giảm 8%, kéo dài tới 15 năm; xác suất khủng hoảng ngân hàng 14%; xác suất thay lãnh đạo tăng 45%, thay bộ trưởng tài chính hay thống đốc tăng 64%.

Yếu tố và sovereign rating

  • Sáu yếu tố: mức nợ (so với GDP), cam kết lương hưu và y tế, mức thu thuế, độ ổn định thu thuế (kinh tế đa dạng, thuế VAT ổn định hơn thuế thu nhập), political risk, hậu thuẫn ngầm từ nước khác.
  • Rating nội tệ thường ít nhất bằng rating ngoại tệ. S&P đo xác suất vỡ nợ; Moody's đo cả xác suất và mức nghiêm trọng. Vỡ nợ gồm không trả đúng hạn và tái cơ cấu.
  • Quy trình: chuyên viên soạn nháp, ủy ban 5–10 người bỏ phiếu; notch-up (gốc là rating ngoại tệ) và notch-down (gốc là rating nội tệ); rà soát định kỳ và khi có tin.
  • Hạn chế: thiên lệch lên, bầy đàn, chậm, phản ứng thái quá, rating sai (thông tin xấu, nguồn lực hạn chế, revenue bias, xung đột lợi ích khác).

Default spread và CDS

  • Default spread = lợi suất trái phiếu chính phủ bằng USD − lợi suất US Treasury cùng kỳ hạn. Ưu điểm: năng động, nhanh, chi tiết. Nhược điểm: không dùng được cho nợ nội tệ, biến động và chứa yếu tố ngoài vỡ nợ. Spread là leading indicator của thay đổi rating.
  • CDS: người mua trả spread × mệnh giá mỗi năm, được bù khi có credit event (cash hoặc physical settlement). Rủi ro: phải có credit event; counterparty risk. CDS spread nhanh hơn rating, dự báo tốt hơn rating, đi kèm mất giá tiền tệ, có hiện tượng lây lan; nhưng chứa market và liquidity risk, kém thanh khoản.

Bản đầy đủ gồm

Bài giảng chi tiết, flashcard lặp lại ngắt quãng, ngân hàng câu hỏi luyện thi, lộ trình theo ngày thi. Dùng trọn 1 năm.

990.000đ690.000đ/ năm-30%

Hoàn 100% trong 7 ngày nếu bạn chưa dùng quá 30% khoá học.

Giá kỳ đầu tiên 690.000đ, cho 100 học viên đầu

Đổi lại, mình xin phản hồi trong quá trình học và kết quả thi kỳ tháng 11. Sau 100 người, giá về 990.000đ.

990.000đ690.000đ/ năm
Mua ngay