Vì sao stress test giám sát
- Sau khủng hoảng 2007–2009, tỷ lệ vốn tối thiểu không đủ: ngân hàng dễ đổi sang tài sản rủi ro cao hơn. Stress test đo vốn và thanh khoản cần để đi qua kịch bản xấu.
- Các đợt đầu có tính "kiểm tra đột xuất", khó làm đẹp số liệu, nên thông tin thật sự mới và giúp lấy lại niềm tin.
- Hai loại cú sốc: scenario (suy thoái nặng, nhiều biến) và sensitivity (lãi suất tăng mạnh, một nhân tố).
SCAP 2009
- Stress test macro-prudential đầu tiên sau khủng hoảng (macro: cả hệ thống, rủi ro hệ thống; micro: từng tổ chức).
- Gồm 19 ngân hàng ≥ $100 billion tài sản cuối 2008. Thiếu vốn thì Bộ Tài chính rót vốn qua CAP, cổ đông hiện hữu bị pha loãng. Phải huy động $75 billion trong sáu tháng; thực tế huy động $77 billion Tier 1 common, không dùng tới CAP.
- Trước SCAP: cú sốc đơn lẻ, một sản phẩm/đơn vị, chỉ tổn thất, không xét an toàn vốn, tĩnh. Sau SCAP: kịch bản vĩ mô đa nhân tố, toàn ngân hàng, nhắm vào vốn sau stress, doanh thu + chi phí + tổn thất, động và phụ thuộc đường đi.
Coherence
- Kịch bản phải cực đoan nhưng có thể xảy ra; rủi ro đa nhân tố nên phải chỉ định kết quả đồng thời của mọi nhân tố.
- Không phải mọi thứ cùng xấu: đồng tiền này giảm thì đồng khác tăng; có flight to quality thì phải có tài sản trú ẩn.
- Sổ kinh doanh: hàng trăm nghìn vị thế, hàng nghìn nhân tố, rất khó tìm kết quả coherent.
- SCAP: ba biến (GDP, thất nghiệp, HPI), kịch bản thị trường theo lịch sử khủng hoảng; một kịch bản cho mọi ngân hàng. CCAR 2011, 2012: thêm kịch bản riêng của ngân hàng, cho góc nhìn micro và macro.
Doanh thu, tổn thất, bảng cân đối
- Ánh xạ nhân tố vĩ mô sang nhân tố trung gian theo sản phẩm và vùng. Địa lý (thất nghiệp 7/2011: Nevada 12.9%, North Dakota 3.3%, toàn quốc 9.1%; thẻ tín dụng nhạy nhất với thất nghiệp), loại tài sản (xe cũ giữ giá nên LGD vay ô tô tăng ít), ngành (máy bay thế chấp khó bán).
- Doanh thu kém phát triển hơn tổn thất; thu nhập lãi dùng đường cong lợi suất; thu nhập ngoài lãi khó nhất và đang tăng tỷ trọng.
- Kỳ stress điển hình hai năm; vốn ≈ vốn cổ phần phổ thông; RWA theo Basel II. Lăn bảng cân đối từng quý; phải giả định bán/giải ngân tài sản, M&A, cổ tức, mua lại/phát hành cổ phiếu.
- Phải đạt ngưỡng ở mọi quý. Kỳ T năm đòi hỏi dự phòng cho T + 1 năm.
- Vốn sau stress = vốn đầu kỳ + PPNR − (tổn thất − dự phòng hiện có + dự phòng cuối kỳ) − lỗ khác.
Công bố
- SCAP: tổn thất dự phóng từng ngân hàng theo tám nhóm tài sản, cùng PPNR và hoàn nhập dự phòng. Trước SCAP chỉ có tổn thất đã thực hiện.
- CCAR 2011: chỉ công bố kết quả vĩ mô; thị trường tự đoán (tăng cổ tức = đạt). CCAR 2012: chi tiết như SCAP, sáu nhóm tài sản; Fed công bố PPNR, lãi lỗ chứng khoán AFS/HTM, tổn thất giao dịch và đối tác của sáu tổ chức giao dịch lớn nhất (ước lượng giám sát).
- EBA Irish và EBA Europe 2011: rất chi tiết, dữ liệu tải được; Ireland đạt stress test CEBS 7/2010 rồi cần cứu trợ bốn tháng sau. EBA Irish: cần €24 billion. EBA Europe: 90 ngân hàng, 8 biến vĩ mô, 21 quốc gia, hơn 70 nhân tố sổ kinh doanh, haircut chủ quyền 7 nhóm kỳ hạn; 8 ngân hàng cần €2.5 billion.
- Công bố: minh bạch, quý nhất khi khủng hoảng; thời bình có thể gây window dressing và làm giá thị trường kém thông tin.