Cơ chế
- Repo: bán chứng khoán, cam kết mua lại ở giá cao hơn; về kinh tế là khoản vay ngắn hạn có bảo đảm. Repo là phía vay tiền, reverse repo là phía cho vay tiền.
- Giá mua lại = giá bán ban đầu × (1 + lãi suất repo × số ngày ÷ 360) (actual/360, lãi suất yết theo năm).
Động cơ
- Bên vay: vốn rẻ hơn vay không bảo đảm; tài trợ vị thế trái phiếu, tồn kho, tự doanh (roll qua đêm, back-to-back với đối tác khác).
- Liquidity management: cân đối chi phí vốn với nguy cơ mất nguồn tài trợ; vốn chủ ổn định nhất nhưng đắt nhất, repo rẻ nhưng kém ổn định.
- Bên cho vay: quản lý tiền mặt (quỹ thị trường tiền tệ, chính quyền địa phương; overnight repo, open repo) hoặc lấy trái phiếu để bán khống.
Rủi ro
- Collateral giảm counterparty (credit) risk. Liquidity risk (giá trị tài sản bảo đảm giảm, mất thanh khoản) giảm bằng haircut, margin call, kỳ hạn ngắn, tài sản bảo đảm chất lượng cao.
- Khủng hoảng 2007–2009: bên cho vay đòi tài sản tốt hơn, haircut lớn hơn, kỳ hạn ngắn hơn, rồi rút hẳn.
- Lehman: JPM là tri-party agent, ứng vốn trong ngày không haircut, áp haircut từ 8/2008, dư nợ trong ngày trên $100 billion, tranh chấp gần $14 billion tài sản bảo đảm.
- Bear Stearns: chuyển từ commercial paper không bảo đảm sang repo kỳ hạn có bảo đảm; tháng 3/2008 bị rút tiền ồ ạt, bên cho vay không roll repo.
Collateral và special spread
- General collateral: chỉ nêu nhóm chứng khoán chấp nhận; GC rate cao nhất cho bên cho vay. Fed funds-GC spread nới rộng khi trái phiếu Kho bạc khan hiếm hoặc khủng hoảng.
- Special collateral: cần đúng một chứng khoán; special rate thấp hơn GC rate.
- Special spread = GC rate − special rate; OTR special spread hẹp ngay sau đấu giá, rộng dần trước đấu giá tiếp theo.
- Trần special spread là GC rate (special rate sàn 0%); sau 2009, penalty rate = max(3% − fed funds, 0) thành giới hạn trên mới.
- Financing value (trên $100) = 100 × special spread × số ngày còn special ÷ 360.