Covered interest parity
- S, F tính bằng USD trên một FC; r lãi suất USD, r* lãi suất FC.
- *F ÷ S = (1 + r) ÷ (1 + r), hay *F − S = S × [(1 + r) ÷ (1 + r) − 1]: forward points xấp xỉ tỷ giá giao ngay nhân chênh lệch lãi suất.
- Hai con đường đầu tư USD (trực tiếp ở r; đổi sang FC, gửi ở r*, bán FC kỳ hạn ở F) phải cho cùng lợi suất, nếu không có arbitrage không rủi ro.
FX swap và cross-currency basis swap
- FX swap: đổi tiền ở S hôm nay, đổi ngược ở F khi đáo hạn; ngắn hạn; niêm yết bằng forward points. Từ 2008, USD có phần bù: F − S > S × [(1 + r) ÷ (1 + r*) − 1].
- Cross-currency basis swap: đổi tiền ở S lúc đầu, kỳ hạn thường trên 1 năm, trả lãi thả nổi hai đồng tiền cộng basis trong kỳ, đổi ngược ở S ban đầu.
- Basis: F − S = S × [(1 + r + b) ÷ (1 + r*)] − S, tức b = (F ÷ S) × (1 + r*) − (1 + r). Bên vay USD trả r + b; bên vay FC trả thấp hơn r* tương ứng. CIP đúng thì b = 0.
- Theo quy ước cộng vào lãi suất USD, b dương từ sau 2008; thị trường niêm yết ở chân FC nên mang dấu âm.
Yếu tố làm basis khác 0 trong khủng hoảng
- Thanh khoản thị trường spot và kỳ hạn giảm, bid-ask spread rộng, chi phí giao dịch xóa lãi arbitrage.
- Risk premium tăng: rủi ro tín dụng đối tác trên thị trường FX, rủi ro tín dụng quốc gia của trái phiếu chính phủ (sovereign CDS spread). Risk premium nhỏ cũng đủ cản arbitrage nếu nhu cầu phòng hộ lớn.
Sau khủng hoảng
- Basis mở ra vì nhu cầu phòng hộ tăng: ngân hàng quản lý lệch đồng tiền bằng FX swap; nhà đầu tư tổ chức (bảo hiểm, ngân hàng) phòng hộ danh mục nước ngoài; doanh nghiệp phi tài chính Mỹ phát hành nợ ngoại tệ rồi swap về USD.
- Basis không đóng vì giới hạn arbitrage: giao dịch phình bảng cân đối, kéo theo rủi ro tín dụng hai chân, rủi ro vốn và nguồn vốn, rủi ro thanh khoản khi ký quỹ; thị trường quản lý bảng cân đối chặt hơn dưới áp lực cơ quan quản lý, cổ đông, chủ nợ.